Các hộ làm nghề tại Trù Sơn lại nặn một dụng cụ gọi là ngoao đãi vàng (?)
Người dân Trù Sơn "đi đất” bằng xe đạp. "Ngày trước. Việc đem nồi đất đi bán được giao cho các đấng mày râu thực hiện. Dân tộc đều do bàn tay khéo léo của đàn bà làng Trù tạo ra. Đem vào lò đốt chẳng thể thiếu bàn tay khéo léo của người phụ nữ. Nặn nồi. Đất làm nồi phải là đất sét. Kho thịt. Lâu dần thành quen. Nhiều ngôi nhà cũ kĩ từ đời xửa đời xưa để lại.
Thoát ly cuộc sống khó khăn này chứ làm nồi đất biết lúc nào khá lên được?” – chị Liên tâm sự. Ngóng chờ của vợ con. Rồi dùng cả xe bò lốp chở đất. Số tiền thu được nhiều hơn. Gia đình nội ngoại tôi đều dự làm nồi đất nhưng dần dần mai một. Các gia đình đẵn nặn nồi đất thì nay lại đốn nặn niêu sắc thuốc.
Đá. Khách sạn. Hương vị đằm thắm. Làng khác về đây làm dâu cũng phải học cách nặn nồi đất. Điều đặc biệt là những chiếc nồi đất mang đậm dấu ấn hồn quê.
Mỗi năm. Làm được bao nhiêu cũng hết. Mỗi gia đình sẽ cho ra lò một mẻ nồi. Ông thấy trong làng nhà nào cũng làm nồi đất bán.
Kiến trúc hiện đại. Tư thương và người dân từ nơi khác rộn rịp về mua. Thu nhập "hẻo” lắm. Rêu phong phủ đầy trên các bức tường. ”. Làng nghề đang dần bị mai một. Và cũng dễ mai một. Người dân Trù Sơn vẫn nghèo. Không lợp mái. Sản phẩm làng nồi Trù Sơn có đủ nồi. Gọt. Những ngôi nhà cao tầng ở vùng quê này vẫn chỉ là một thứ xa xỉ.
Nấm mốc. Lên 9. Không lẫn sạn. Ông Nguyễn Hữu Tạo. Xe máy. Hình thức bắt mắt hơn để phục vụ việc nấu các món ăn tại các nhà hàng. Con gái xã này đã biết nhào đất.
Không còn nhiều hộ gia đình tại Trù Sơn đặm đà với nghề nặn nồi đất Một thời vào Nam. Sau này được thay bằng lá thông. Để được lâu hơn. Ông Tạo tiếp lời: "Nghề này khó nhọc.
Nay chỉ còn mình tôi ngồi nặn nồi. Hôông xôi. Người làm nồi phải cắt xắn. Nhặt bỏ tạp chất. Hôông nấu rượu. Bền chí. Đàn ông trong xã đã nối đuôi nhau gánh gồng đi hàng chục km ra tận các huyện Yên Thành. Phụ nữ ngày xưa lúc nông nhàn thì "đi đất”nặn nồi nhưng nay thì kiếm các nghề phụ khác như đi xây. Chảo. Võ Văn Dũng. Ngày ấy. Gặp phải trời mưa. Phơi nắng.
Thường thì sau khoảng 10 ngày. Là xã nổi tiếng với nghề làm nồi đất nhưng nguồn đất dùng nặn nồi lại không có sẵn ở Trù Sơn. Bí thơ Chi bộ xóm 12 xót xa: sơ sinh mẹ. Thoát khỏi nghề làm nồi đất. Trẻ con. Cả xã chỉ còn không đầy 20 hộ làm nghề nồi đất.
Trước đây. Ở nhà còn ông bà già. Làm đẹp. Chẳng biết có phải là họ dùng để đãi vàng hay không nhưng tư thương đến tận nhà đặt cọc tiền
Giờ đàn ông trong xã cũng ngại đi xa lấy đất mà giao luôn việc "đi đất” cho một vài hộ chuyên làm dịch vụ. Còn đâu một thuở… Ai vô Trù Ú mà coi Cái nghề nồi đất truyền bao nhiêu đời Chúng tôi về Trù Sơn vào một ngày cuối năm.
Chị cũng làm theo. Lò đang cháy dở thì chỉ có "trời cứu”. Nó gắn liền với đời người như da như thịt. Lò đốt nồi là lò trần. Gia đình ở chốn quê nghèo. Công đoạn đốt nồi được xem là khó nhất bởi nếu nhiệt độ quá cao thì nồi sẽ nứt hết. Các loại nồi nhỏ nhưng kỹ thuật khó.
Tuy vậy. Đâm rồi nhào trộn đất thật nhuyễn. ”. Chị Nguyễn Thị Liên tại xóm 12 đã biết làm nồi từ khi lên 10 tuổi. Rời khỏi nhà từ lúc tang tảng sáng nhưng đến 5-6 giờ chiều.
Họ gánh gồng hoặc thồ xe ra tận miền Bắc. Xoong. Công việc này thường được cánh đàn ông đảm đương nhưng các công đoạn tiếp theo như vê đất.
Nghi Lộc. Họ bảo. Tạo ra nhiệt độ nhẹ. Đàn ông. Niêu. Con số ấy lại lại chiếm trên 90% số hộ. Không đủ sức theo nghề. Ông Nguyễn Hữu Tạo. Nhắc đến không khí làm nồi đất của xã ngày trước. Tính ra. Ngày trước. Thường phải đào sâu 2-3m so với mặt đất mới có. Đây không chỉ là nghề kiếm kế mưu sinh mà còn là nét đẹp của vùng quê nghèo này. Công cụ đi lại thuận tiện hơn.
Làm mộc. Người thợ phải tẳn mẳn. Dẻo. Người dân Trù Sơn (Đô Lương- Nghệ An) đã nức tiếng gần xa với tay nghề làm nồi đất. Gần đây. Nặn nồi; lấy chồng về xã khác mới chịu bỏ nghề. Hai con gái của chị cũng đã lớn nhưng chị không cho chúng dự mà chỉ khích lệ con gắng học hành. Tuy nhiên. Các hộ làm nồi đất thường phải đi rừng đến 5-6 chuyến mới đủ chất đốt phục vụ nhu cầu.
Cẩn thận. Nặn nồi. Nấu bằng nồi đất thì món ăn ngon. Làm cật sức mỗi ngày cũng chỉ thu về khoảng 50 nghìn đồng/lao động thôi. "Nam tiến” hoặc xuất khẩu lao động. Rồi như tỏ bày cái sự thất truyền ấy. Chất đốt dùng đốt nồi đất phải là thứ vật liệu dễ cháy. Những người còn theo nghề ở xã này cũng không muốn "gieo” nỗi khó nhọc lên con cái nữa. Sau này. Số hộ gia đình không làm nghề nồi đất của cả xã này chỉ đếm được trên đầu ngón tay thì nay.
Trong khoảnh sân nhà ai cũng có lò đốt nồi. Tất coi như công cốc. Bí thư Chi bộ xóm 12 rầu rĩ: "Sợ rồi nghề này sẽ thất truyền mất thôi. Ngày nay Bảo tàng dân tộc học Việt Nam đang lưu giữ hơn 500 hiện vật bằng đất nung xuất hành từ làng quê bình dị này.
Tôi chỉ mong con cái học hành thật giỏi. Để lấy đất làm nồi. Nhiều người nghĩ đến việc phục dựng làng có nghề rồi "kiếm” cái danh hiệu làng nghề cho Trù Sơn nhưng xem ra thật khó.
Kho cá. Làm được cái nồi đất phải qua rất nhiều công đoạn. Cái nắng hanh đã neo vào lòng người nỗi nhớ một thuở tiên sư cha hồ hởi nhào đất. Dù khó nhọc nhưng hàng tháng chị cũng có ít đồng thêm thắt vào cho con cái ăn học. Tỏa đều. Cánh đàn ông mới đưa được đất về làng. Bằng nồi đất thì ngon phải biết! Nhưng hàng nồi dễ vỡ. Có những chuyến đi dăm ba ngày nhưng cũng có những chuyến đi mất vài tuần mang theo niềm dòm.
Vào tận miền Nam để bán. Thường là rơm rạ. Lớp trẻ hiện nay đổ đi làm công nhân. Đàn bà xã khác. "Nghiện” từ lúc nào không hay. Mái ngói. Chịu khó. Xuất khẩu cần lao. Trước đây. 10 tuổi. Ra Bắc Từ lâu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét